Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2016

Các loài động vật cổ xưa hàng triệu năm vẫn còn tồn tại trên Trái đất

Khi nhắc đến những “hóa thạch sống”, hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay tới loài bò sát. Ít ai ngờ, danh sách những loài tồn tại hàng triệu năm trên Trái đất này bao gồm cả động vật có vú, cây cối và các loài chim. 



Thậm chí, có một số loài động vật sống cùng thời với khủng long vẫn hiên ngang đi lại trong thế giới tự nhiên hiện nay. Danh sách những loài sinh vật cổ xưa vẫn đang tồn tại trên Trái đất dưới đây hẳn sẽ khiến không ít bạn ngỡ ngàng.

1. Hươu đuôi trắng - tồn tại cách đây 3,5 triệu năm

Hươu đuôi trắng là giống hươu lâu đời nhất còn tồn tại cho đến ngày nay cùng những đặc điểm nhanh nhẹn và linh hoạt vẫn được giữ nguyên từ 3,5 triệu năm trước. 

Theo nhà sinh vật học, loài này vẫn sống sót đến ngày nay đơn giản là bởi nó hoàn toàn thích hợp để tồn tại trong thế giới tự nhiên. 

Hươu đuôi trắng ăn gần như mọi thứ để sinh tồn - chúng thậm chí còn ăn cả thịt và cá. Tuy nhiên, chúng không ăn cỏ. Loài hươu này hoàn toàn không có cấu tạo răng và dạ dày như hầu hết loài hươu khác để có thể hấp thụ chất dinh dưỡng từ cỏ. 

Hươu đuôi trắng có thể phát triển trong khí hậu trải dài từ Bắc Cực cho tới Brazil - đây được coi là phạm vi sống lớn nhất của bất kì loài móng guốc nào từng tồn tại. 

Nghiên cứu về loài này, các chuyên gia phát hiện chúng biết phòng ngừa rủi ro như xóa dấu vết trên mặt đất bằng cách đi lòng vòng tại chỗ. Khi bị săn đuổi, chúng sẽ chạy theo những con đường quen thuộc nơi mà chúng biết rõ những chướng ngại vật, điều này khiến những kẻ săn mồi chán nản và bị giảm tốc độ. 

Đôi khi, loài hươu thông minh này còn dẫn loài săn mồi đến chỗ một con hươu khác nhằm đánh lạc hướng và "đánh tráo" mục tiêu. Thậm chí, chúng còn cắt đuôi loài đi săn bằng việc chạy qua một vùng nước, lẩn trốn dưới nước hay thậm chí bơi trên đại dương nơi để không ai có thể đuổi theo chúng. 

Ở điều kiện thuận lợi, một cá thể hươu cái có thể sinh một cặp hoặc ba hươu con. Ngay từ khi sinh ra, hươu đuôi trắng đã được dạy cách để sinh tồn. Hươu con là bậc thầy về lẩn trốn, chúng sẽ không để lại bất cứ mùi cơ thể nào, ẩn mình trong những bụi cỏ với bộ da lốm đốm nếu phát hiện bất cứ mối đe dọa nào. 

2. Ngựa vằn - tồn tại cách đây 4 triệu năm

Ít ai ngờ rằng, những chú ngựa vằn ở vùng đồng bằng châu Phi đã tồn tại trên Trái đất một khoảng thời gian dài - lên tới 4 triệu năm.

150810animals2-fc702

Ngựa vằn tách ra khỏi loài ngựa tiền sử thông thường khoảng 4 triệu năm trước. Ngày nay, ngựa vằn được chia thành 3 loài lớn và hơn 10 phân loài, tất cả đều có kiểu bờm Mohawk và tiếng hí đặc trưng. 

Mặc dù lãnh thổ đôi khi chồng chéo lên nhau nhưng các loài khác nhau của ngựa vằn không giao phối. Mỗi loài mang số lượng nhiễm sắc thể khác nhau. Chính vì vậy, khi con người cố gắng phối giống giữa ngựa vằn "già nhất" Grevy và ngựa vằn núi, hầu hết trường hợp đều không thành công.

Các nhà sinh vật học cho biết bên cạnh đó còn có loài lừa vằn quagga đã tuyệt chủng là phân loài của loài ngựa vằn đồng cỏ phổ biến nhất ngày nay. 

Kết quả xét nghiệm DNA trên lừa vằn cho thấy có những điểm chung của loài này với loài ngựa vằn đồng bằng. Hai loài đã tách ra và tiến hóa theo hai con đường khác nhau vào Kỷ Băng hà cách đây từ 120.000 - 290.000 năm, trong đó ngựa vằn phát triển thêm những đặc điểm của sọc vằn cũng như hình dạng cơ thể.

3. Sếu xám Sandhill - tồn tại 10 triệu năm

Trong số 15 loài sếu còn tồn tại, sếu xám Sandhill là loại có số lượng lớn nhất và có vùng lãnh thổ sinh sống rộng nhất.

Hóa thạch được cho là cổ nhất của loài này được tìm thấy ở Florida và có niên đại khoảng 2,5 triệu năm, nhưng đó có thể chưa phải là mẫu hóa thạch cổ xưa nhất. 

Một hóa thạch khác cũng được khai quật ở Nebraska và đó là một bằng chứng thuyết phục rằng, loài sếu xám Sandhill đã tồn tại từ trước đó rất lâu. 

Mẫu hóa thạch ở Nebraska có niên đại khoảng 10 triệu năm và được chứng minh là giống với loài sếu xám Sandhill ngày nay. Điều này cho thấy, chúng là loài chim lâu đời nhất trên thế giới. 

Hàng năm, từ tháng 3 - 4, có khoảng 500.000 cá thể của loài sếu màu xám - xanh với phần đầu màu đỏ này thực hiện một chuyến di cư ngoạn mục đến Canada và Alaska, di chuyển đến 650 km/ngày. 

Loài sếu duyên dáng này nhảy múa để thu hút và tìm kiếm bạn đời cho mình, sau đó xây tổ ở một vùng ngập nước và nuôi 1 - 2 chú sếu con. Sếu con mở mắt ngay sau khi sinh và có thể di chuyển chỉ sau tám giờ, thậm chí chúng có thể bơi. Sếu xám Sandhill nuôi dưỡng và bảo vệ con của chúng trong khoảng 10 tháng - bằng cách rít lên hoặc đánh đuổi những kẻ săn mồi. 

Dù chưa bị xếp vào Sách Đỏ, tuy nhiên sếu xám Sandhill tại một số khu vực như tiểu bang Mississippi, Mỹ và Cuba đã bị coi là tuyệt chủng.

4. Chồn Opossum vùng Virginia – tồn tại cách đây 70 triệu năm

Loài thú có túi duy nhất ở Bắc Mĩ này có những nét pha trộn của một chú gấu bông dễ thương và... chuột cống. Hóa thạch lâu đời nhất của chúng có niên đại khoảng 70 triệu năm, khiến chúng trở thành một trong những loài động vật có vú lâu đời nhất trên Trái đất.

Loài chồn Opossum vẫn giữ được hình dáng cơ bản của chúng qua từng đó thời gian. Giống như chuột túi Kangaroo, loài chồn này bảo vệ con chúng trong chiếc túi trên cơ thể. 

Chiếc túi này an toàn đến mức đã có trường hợp thú con vẫn sống sót sau khi chồn mẹ bị ô tô đâm phải. Chiếc túi còn có thể chống nước, giữ cho chồn con hoàn toàn khô ráo khi cá thể mẹ bơi. 

Ngoài ra, chồn Opossum có một thủ thuật sinh tồn khá đặc biệt, đó là giả vờ chết. Khi bị dồn đến bước đường cùng, chúng sẽ giảm nhịp tim và nhịp thở của mình trong tối đa 6 giờ, co chân lại giả bộ chết. Điều này khiến cho những loài săn mồi không ăn xác thối chán nản và bỏ đi. Tuy nhiên, chồn Opossum không làm điều này thường xuyên, đây là một cách thường chỉ được sử dụng bởi những con non.

Một thủ thuật sinh tồn khác của loài thú dễ thương này là khả năng hăm dọa kẻ thù bằng cách nhe hàm răng lên tới 50 chiếc của mình. Đây cũng là số răng kỷ lục của các loài có vú. Song song với đó, chúng còn chảy dãi và sùi bọt mép hăm dọa để thể hiện độ "khó nhằn" của chúng.

Nguồn: Listverse

Mặt trái của các động vật dễ thương

Chúng ta thường gắn hành vi mang tính “thú vật” như giao phối cận huyết, ăn thịt đồng loại... cho những loài vật có vẻ ngoài dữ tợn, hoang dã và đáng sợ. 



Tuy nhiên ít ai ngờ rằng, kể cả các loài động vật vô cùng dễ thương với đôi mắt to tròn và vẻ ngoài hoàn toàn vô hại cũng có “mặt tối” của riêng mình. 

Hãy cùng điểm danh một số “tên khùng” với vỏ bọc đáng yêu trong thế giới động vật.

1. Meerkat biết hành hạ đồng loại

Meerkat - loài chồn đất châu Phi nổi tiếng với dáng vẻ nhỏ nhắn, đôi mắt to tròn như mèo và dáng đứng trên hai chân vô cùng dễ thương. 

Vậy nhưng các quan sát của các chuyên gia đã chỉ ra rằng, loài động vật này không hề hiền lành như vẻ ngoài. Sau một nghiên cứu diễn ra trong vòng 15 năm trên 40 nhóm Meerkat khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận, chồn đầu đàn chính là một tên “địa chủ” chuyên kiểm soát nô lệ.

Sống theo bầy từ 20-30 cá thể, Meerkat phải chịu sự chỉ đạo của một cặp alpha - cặp đôi duy nhất có quyền sinh đẻ. Điều đáng chú ý là khi trong đàn xuất hiện một cặp beta khác giao phối và có con, những cá thể Meerkat alpha sẽ lộ rõ bản chất của mình. 

Theo đó, chúng sẽ “tiêu diệt” tất cả những đứa con sinh ra của cặp đôi beta. Không dừng lại ở đó, những cá thể Meerkat này sẽ bắt cô nàng trong cặp đôi beta phải lựa chọn: hoặc là ra khỏi đàn mãi mãi và đi săn một mình hoặc trở thành nô lệ cho những cá thể còn lại. 

Do không thể tồn tại độc lập ngoài tự nhiên, cô nàng beta sẽ buộc phải trở thành nô lệ của con cái đầu đàn và chăm sóc con cho chúng. 

Những cô nàng beta này sẽ trở thành “bình sữa” cho cả đàn và phải chăm sóc hàng đợt Meerkat mới sinh cho đến khi kiệt sức mà chết.

2. Nazca Booby chuyên ngược đãi trẻ em

Là một loài chim trong họ Sulidae (họ chim điên), Nazce Booby sống chủ yếu ở quần đảo Galapagos và đảo Clipperton ở phía Đông Thái Bình Dương. Tuy nhiên, vẻ ngoài hoàn toàn bình thường không thể che giấu những hành vi dã man mỗi khi tức giận của loài chim này.

Một nghiên cứu kéo dài 25 năm đã theo dõi đời sống của những cá thể Nazca “độc thân”. Vì một lý do nào đó, Nazca đã không kết đôi trong suốt cuộc đời mình. 

Chúng sẽ trở nên hung hăng và chuyên đi ngược đãi những con chim khác. Chúng theo dõi những con Nazca già yếu hoặc còn non, sau đó tìm cơ hội để tấn công chính những đồng loại bằng cách mổ, cào và cắn bất cứ cá thể nào khác yếu hơn mình.

Và điều tồi tệ hơn là, những cá thể Nazca con bị bắt nạt khi lớn lên sẽ lại đi ngược đãi số khác. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hành vi mang tính chu kì này bằng cách đánh dấu các con bị ngược đãi và quan sát chúng trưởng thành. Vòng xoáy bạo lực cứ thế tiếp diễn, trở thành mặt tối của loài chim này.

3. Sâm cầm tấn công chính con đẻ

Những cá thể sâm cầm có thể có một tuổi thơ “xấu xí” nhưng khi lớn lên chúng đều như “vịt hóa thiên nga”, mang vẻ đẹp khó phủ nhận trong thế giới các loài chim. Tuy nhiên về mặt gia đình, chúng nổi tiếng là những bậc phụ huynh tồi tệ.

Vấn đề của loài chim này là chúng đẻ rất nhiều con trong khi không đủ sức để nuôi nấng hết tất cả. Mỗi lần sinh sản, khoảng 9-10 con non sẽ tách trứng chui ra. 

Với 10 cái miệng xin ăn, các bậc cha mẹ sâm cầm không kịp trở tay đáp ứng hết. Sau một thời gian, chúng trở nên cáu kỉnh và tấn công chính con đẻ mình. 

Sâm cầm mẹ sẽ dùng mỏ tấn công bọn trẻ con để bắt chúng không còn la hét. Dần dà nó chỉ tập trung vào đứa yếu nhất. Con mẹ cắn, mổ đứa trẻ cho đến khi nó không thể kêu nữa và rồi chính thức loại bỏ ra khỏi đàn, để mặc nó từ từ chết đói. 

Quá trình này không chỉ diễn ra một lần mà nhiều lần. Sâm cầm sẽ loại dần từng đứa con cho đến khi số sâm cầm con dừng lại ở mức “nuôi được”- có nghĩa là từ 2 - 3 con.

4. Chim cánh cụt hoàng đế bắt cóc con non

Chim cánh cụt nổi tiếng với lớp lông bông xù  và cách bước đi dễ thương. Vẻ ngoài ngốc nghếch đáng yêu của chúng cán đổ trái tim của hàng triệu người. Vậy mà ít ai có thể tưởng tượng được rằng những con thú đáng yêu này lại trở thành kẻ “bắt cóc trẻ em”. 

Loài cánh cụt hoàng đế là loại cánh cụt lớn và nặng nhất trong số họ hàng loài chim đặc hữu của châu Nam Cực này. Hành vi “bắt cóc trẻ em” bắt đầu khi những con cánh cụt hoàng đế mẹ đi kiếm ăn về và phát hiện đứa con của mình đã mất tích hoặc bị chết. 

Thay vì buồn khổ và cố gắng làm lại từ đầu, chúng sẽ đi… bắt cóc cánh cụt con của người khác với mục đích mang về thay thế đứa con của mình.

Tuy nhiên ý tưởng này không tồn tại lâu bởi sau khi đã bắt cóc đứa trẻ, chúng nhanh chóng thấy chán chỉ trong vòng một ngày, thậm chí sau vài tiếng. 

Kẻ bắt cóc lúc bấy giờ sẽ bỏ mặc đứa trẻ giữa trời băng giá. Kết cục của cánh cụt con là chết do lạnh, do đói hoặc trở thành mồi của lũ hải cẩu.

Nguồn: Cracked

Những loài vật hoang dã tự tỏa mùi thơm

Nhắc tới nước hoa, người ta nghĩ ngay tới những loại hoa có hương thơm nồng nàn, quyến rũ như hoa hồng, oải hương… Tuy nhiên, điều đó có lẽ chỉ đúng vào thời điểm nước hoa mới ra đời mà thôi.



Ít ai biết rằng, bên cạnh những loài thực vật trên, mùi hương của nước hoa còn được tạo ra từ một số sản phẩm đặc biệt có nguồn gốc động vật. Danh sách dưới đây sẽ chứng minh cho bạn điều ấy.

1. Long diên hương (Ambergris)

Loại nguyên liệu nước hoa có cái tên rất kêu này là sản phẩm tạo ra từ hệ tiêu hóa của cá nhà táng. Nguyên nhân hình thành của hợp chất này vẫn chưa được xác định chắc chắn. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã đồng tình rằng, long diên hương được cá nhà táng tổng hợp để thuận tiện cho quá trình tiêu hóa những thức ăn khó tiêu trong dạ dày.

Long diên hương còn được cá nhà táng thải ra ngoài môi trường dưới dạng những khối chất thải bốc mùi. Sau một thời gian, long diên hương bị oxi hóa sẽ biến thành một hợp chất có mùi hương rất dễ chịu, quyến rũ.

Các nhà sản xuất đã áp dụng điều này trong việc biến long diên hương thành một nguyên liệu để sản xuất nước hoa. Khi nung nóng trong cồn, những tinh thể ambrein màu trắng được tách ra khỏi long diên hương. 

Sau đó, chỉ cần oxi hóa ambrein ta sẽ thu được các chất ambrox và ambrinol, hai thành phần làm nguyên liệu cho việc sản xuất nước hoa.

Long diên hương là một hợp chất rất hiếm, chỉ có trong 1% các loài cá nhà táng. Vậy nên người ta chỉ dùng long diên hương để sản xuất những lọ nước hoa cao cấp và rất đắt tiền.

2. Xạ hương ở hươu đực (Musk)

Xạ hương được tìm thấy ở loại hươu xạ sống chủ yếu tại khu vực phía Bắc của châu Á, đặc biệt là dãy Himalaya. Đây là loài động vật có kích cỡ nhỏ, sống đơn lẻ, rất nhút nhát và không có gạc.

Bù lại việc thiếu gạc, những con hươu xạ đực lại mang trên mình hóa chất đặc biệt giúp chúng hấp dẫn bạn tình. Chúng cất giữ báu vật này trong một túi lông nhỏ phía trước dương vật. 

Những chất này rất thơm và lọt vào mắt xanh của những nhà sản xuất nước hoa.

Túi lông của hươu xạ đực chứa vật báu mà các nhà sản xuất nước hoa luôn săn tìm

Theo đó, túi lông hươu xạ được đem làm khô rồi băm nhỏ và bỏ vào dung dịch rượu mạnh. Sau đó, các nhà sản xuất ngâm chúng hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Kết quả thu được là một hợp chất với mùi hương ngọt ngào mà nhẹ nhàng, nhất là thơm rất lâu.

3. Xạ hương ở cầy hương (Civet)

Khác với hươu xạ, xạ hương của cầy có dạng sệt, màu vàng bơ có khả năng ngả màu nâu theo thời gian. Chất này được tiết ra từ tuyến đáy chậu của cầy hương và được con người thu hoạch ở dạng khô và rắn.

Cận cảnh xạ hương thu được từ cơ thể của cầy

Ở trạng thái bình thường, chất xạ hương này có mùi hôi rất nồng và vô cùng khó ngửi như mùi phân. Tuy nhiên, khi pha loãng với rượu, chúng lại cho ra sản phẩm thơm một cách ngọt ngào, dịu nhẹ như hương hoa. 

Qua những bước xử lý hương liệu thích hợp, xạ hương của cầy sẽ trở thành một vật báu thật sự

Ngày nay, xạ hương của cầy được đưa vào sản xuất nước hoa dưới dạng bột nghiền nhỏ. Theo tính toán, với 500g bột chất này, người ta có thể bảo quản và sử dụng trong vòng bốn năm mà không bị ảnh hưởng tới chất lượng.

4. Hương hải ly (Castoreum)

Hải ly là một trong những loài nổi tiếng với việc gây dựng lãnh thổ, rất hung hăng với những kẻ xâm nhập bất hợp pháp. Chúng sử dụng bùn, rác và Castoreum để đánh dấu trên khắp chiều dài lãnh thổ của mình.

Castoreum được hải ly sản xuất tại một tuyến gồm các túi nhỏ bên trong cơ thể, nằm giữa xương chậu và đuôi. 

Trong công nghiệp sản xuất nước hoa, chất này được sử dụng như một thứ nguyên liệu vô cùng đặc biệt. Các túi chứa Castoreum trong người hải ly sẽ được hun khói hoặc phơi nắng để làm khô. Lúc này, Castoreum sẽ trở nên có mùi êm dịu, ngọt ngào.

Những túi hương trong cơ thể hải ly sẽ được đem phơi khô dưới nắng

Không chỉ tạo mùi hương, nước hoa có thành phần Castoreum còn tạo một cảm giác dễ chịu trên da, chống kích ứng cho người sử dụng. 

Ngoài ra, Castoreum còn được sử dụng để chữa một số bệnh như đau đầu, động kinh,… bởi trong hợp chất này có chứa axit salicylic, giống như aspirin. 

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là muốn có Castoreum, con người buộc phải giết các cá thể hải ly. 

5. Chất thải hóa đá của chuột Hyrax (Hyraceum)

Hyraceum là chất thải bị hóa đá của chuột Hyrax. Đây là một loài động vật có kích cỡ trung bình, bề ngoài khá giống với loài lợn Guinea. Chúng sống theo lối bầy đàn, mỗi đàn từ 10-80 con. 


Một điều khá thú vị của loài này, đó là việc cả đàn thường đi vệ sinh tại cùng một vị trí. Điều đó giúp con người thu hoạch “sản phẩm” đơn giản với số lượng lớn chỉ trong một lần.

Để sản xuất nước hoa, con người sẽ cần thu hoạch những thứ này

Hyraceum có thể rắn và có màu nâu. Khi chúng vỡ, con người thu được một loại dầu tối màu với mùi như bị lên men, rất phức tạp và có cường độ mạnh. 

Cũng giống như tinh chất thu được từ các loài động vật khác, hyraceum là một loại thuốc hãm màu rất tốt cho nước hoa.

Tuy góp phần tạo nên những chai nước hoa đắt tiền nhưng để phục vụ cuộc sống con người, không ít các loài vật nói trên phải đánh đổi bằng cả tính mạng của mình. 

Vì vậy, chúng ta cần chú ý và cân bằng giữa việc phát triển ngành nước hoa với việc đảm bảo sự tồn tại của các loài sinh vật hoang dã trên.

Nguồn : Discover Magazine, Wikipedia

Các loài động vật hoang dã đang bị con người tận diệt

Không ít người công nhận rằng, việc buôn bán động vật hoang dã là một ngành kinh doanh kiếm lời bởi doanh thu có lên tới cả tỷ đô la mỗi năm. Đây thực sự là con số không tưởng và không ít người bạo gan đã móc nối với nhiều tổ chức để buôn bán động vật hoang dã kiếm lời.



Nhằm ngăn chặn tệ nạn này, nhiều biện pháp ngăn chặn đã được đưa ra. Tuy nhiên bạn có biết, mỗi năm, các chế phẩm từ động vật hoang dã vẫn xuất hiện trên những bàn tiệc xa xỉ hoặc trong những phương thuốc “tiên” chế từ sừng tê giác, ngà voi, mật gấu… 

Theo một nghiên cứu mới công bố năm 2014, 100.000 chú voi châu Phi và 1.200 tê giác Nam Phi đã bị giết trong vòng 3 năm, trong khi đó 30% giao dịch lâm sản trên toàn cầu có nhiều khả năng là diễn ra bất hợp pháp.

Cùng “phanh phui” những tội ác và điểm danh những loài thú hoang dã đang ngày giờ bị đe dọa bởi con người.

1. Hổ Bengal

Hổ Bengal là phân loài hổ phổ biến nhất và cũng là loài hổ lớn thứ 2 trong số các phân loài hổ còn tồn tại. Chúng có bộ lông màu da cam với những sọc màu nâu hoặc đen nhưng mỗi con hổ lại có những đường vằn được bố trí ở những vị trí khác nhau, điều đó làm cho mỗi con hổ có những bộ lông khác nhau tương tự như việc con người không ai có cùng dấu vân tay.

Cá thể hổ Bengal hiện tại đã bị thu hẹp, chỉ còn khoảng 2.200 con và được xếp vào Sách Đỏ của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN). 

2. Cá ngừ vây xanh

Cá ngừ vây xanh hiện đang được liệt vào loại cá quý hiếm, được các chủ nhà hàng, khách sạn truy tìm ráo riết để phục vụ các thượng đế. Được cho là loài sinh vật có thịt thơm ngon và bổ dưỡng, số lượng cá ngừ trên toàn cầu bắt đầu giảm từ thập niên 1960.

Các phương pháp đánh bắt cá mới được áp dụng đã phần nào dẫn đến tình trạng loài này bị đánh bắt quá mức, bất chấp các khuyến cáo được chuyên gia đưa ra nhằm cân bằng môi trường sinh thái và tạo điều kiện cho chúng sinh sản. 

Không những cá trưởng thành bị đưa lên đĩa mà ngay cả ổ trứng của cá ngừ vây xanh cũng được coi là "mỹ vị" khi kết hợp với cơm sushi - món ăn nổi tiếng của Nhật Bản. Và đất nước Mặt trời mọc này cũng là thị trường tiêu thụ cá ngừ lớn nhất trên thế giới.

3. Tê tê

Bạn có thể tìm thấy tê tê - loài động vật có vú với chiếc lưỡi dài này trên khắp lục địa Âu - Á và châu Phi. Có dáng vẻ nhút nhát và được mệnh danh là "quả thông biết đi" do khi ngủ chúng thường cuộn tròn mình lại, nhưng nhiều người tin, vảy tê tê là một loại dược liệu quý.

Vảy tê tê giúp bổ tuần hoàn, tăng tiết sữa cho phụ nữ sau sinh hay chữa được ung thư. Nhưng trên thực tế, vảy tê tê có bản chất là keratine - chất cấu tạo nên tóc, móng tay móng chân của các loài động vật nói chung, kể cả con người.

Không ít người còn đồn đại rằng, thịt và mật tê tê có thể chữa được bệnh lao và một số bệnh khác về phổi. Tuy nhiên, chưa có bất cứ một chứng minh khoa học nào khẳng định những lợi ích của việc ăn hay sử dụng các bộ phận từ tê tê. Vậy mà, số lượng tê tê vận chuyển bất hợp pháp hàng năm lên tới 10.000 con (theo số liệu của tổ chức IUCN). 

Còn theo tổ chức Annamiticus, con số trên chỉ phản ánh được 10 - 20% số lượng tê tê buôn lậu trên thực tế. Họ ước tính rằng, mỗi năm số lượng tê tê bị săn bắt lên tới 116.990 - 233.980 con.

4. Gấu

Những tưởng sau nhiều nỗ lực và dự án bảo vệ động vật hoang dã, số lượng săn bắt gấu tự nhiên sẽ ngày một giảm bớt nhưng sự thật lại hoàn toàn trái ngược.

Một số trại nuôi vẫn bắt gấu hoang dã về nhốt dự trữ và lượng mật của chúng cũng nhiều hơn gấu nuôi do được sinh sống trong môi trường tự nhiên.

5. Voi Sri Lanka 

Trong hình hai chú voi đực đang quần thảo trong Vườn Quốc gia Udawalawe, thế nhưng không bao lâu nữa con người sẽ không còn được chứng kiến những hình ảnh như thế này nữa. 

Bọn săn trộm sẵn sàng bắt giết cả trăm con voi để lấy một bộ ngà, phục vụ cho ngành thủ công mỹ nghệ hoặc làm thuốc. 

Bên cạnh đó, một số nghi lễ của thổ dân cũng có tục lệ giết voi lấy bộ ngà dâng cho thần linh. Những cuộc tấn công thảm khốc bằng lửa đạn, súng ống đã khiến những chú voi hiền lành chậm chạp không thoát khỏi nanh vuốt tử thần. Số lượng voi hoang dã ước tính có khoảng 30.000 đến 50.000 con.

6. Kền kền Andes

Thần ưng Andes hay Kền kền khoang cổ là một loài chim thuộc họ kền kền tân thế giới, chúng được coi là chúa tể bầu trời Nam Mỹ trong dãy Andes. 

Vào thế kỉ XIX, chúng sinh sống trong phạm vi rộng lớn từ Patagonia đến Chile nhưng cho đến ngày nay, phần lãnh thổ đó đã bị thu hẹp đáng kể. Trên thế giới đã từng ghi nhận những cá thể kền kền Andes có chiều dài thân lên đến 2m, nặng 20kg, với sải cánh rộng 4,5m. 

Đây là loài chuyên ăn xác thối. Tuy nhiên, sự biến mất của những loài động vật ăn thịt khác trong rừng cũng là nguyên nhân chính khiến số lượng loài này sụt giảm. Hơn nữa, kền kền Andes còn bị bắt về nhốt trong nhà như một loài chim cảnh.

7. Cá voi đầu bò

Mặc dù không phải là đối tượng của ngành công nghiệp thủy hải sản nhưng những loài cá voi khổng lồ này lại thường vướng phải những chiếc lưới lớn hay bị móc vào neo tàu đánh cá và chết một cách oan uổng. Mới đây, danh sách của IUCN cũng đã nêu tên loài vật này trong mục cần bảo tồn.

* Mỗi chúng ta, hãy bảo vệ loài động vật hoang dã trên bằng cách không săn bắt, ăn thịt, bao che cho những người buôn bán... Trong trường hợp phát hiện các thông tin, hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới động vật hoang dã, hãy gọi về dường dây nóng miễn phí 1800 1522 để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Nguồn: NationalGeographic, Wikipedia

21 sự thật phi thường về loài Kiến

1. Loài Kiến hầu như không có tai, chúng cảm nhận âm thanh từ rung động mặt đất, thông qua bộ cảm biến nhạy cảm trên các chân của nó.



2. Nhiều học giả cho rằng, tổ tiên của loài kiến đã từng sống cùng thời với khủng long. Một số ý kiến khác lại cho rằng, tổ tiên của loài Kiến đã tiến hóa thành loài Kiến hiện đại như ngày nay vào thời kỳ giữa kỷ Phấn Trắng, cách nay từ 110 đến 130 triệu năm trước.

3. NASA đã phát minh ra một thùng dụng cụ nuôi Kiến đặc biệt gọi là Antquarium. Kiến được cho vào đó và cùng các phi hành gia bay vào không gian. Đây là một dự án nghiên cứu sự thích nghi của động thực vật trong không gian. Và Kiến cũng là một trong những sinh vật đầu tiên trên Trái Đất được ra ngoài vũ trụ.

4. Kiến Chúa có thể sống thọ đến 30 năm, lâu hơn các loài côn trùng khác có kích thước tương tự gấp 200 lần. Còn các con Kiến thợ thông thường chỉ có thể sống khoảng từ 1 đến 2 năm.

5. Kiến có mối quan hệ khắng khít và khá "tình thương mến thương" với loài Mối và Gián.

6. Kiến là loài vật rất chăm chỉ, nhất là những chú Kiến thợ, hầu như trong suốt cuộc đời chúng chỉ đi tìm kiếm thức ăn và mang vác chiến lợi phẩm về tổ dự trữ.


7. Loài Kiến Jack Jumper rất nguy hiểm, cú đốt của chúng có nộc độc gây chết người. Hiện tại, vẫn chưa có thuốc giải độc.

8. Loài "Kiến Đạn" lại có những vết cắn gây đau đớn nhất trong những loài Kiến. Vết cắn sẽ sưng tấy và đau đớn suốt 24 giờ.

9. Kiến có thị lực khá kém, chúng thường sử dụng từ trường của Trái Đất để định hướng đường đi.
10. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, Kiến là loài côn trùng thông minh nhất, chúng có hơn 250.000 tế bào não trong cái đầu bé nhỏ của mình.

11. Kiến sống theo những đàn khổng lồ và sống "du canh du cư", chúng chỉ sống ở một nơi trong thời gian ngắn, sau đó sẽ "gói gém" thức ăn, trứng, ấu trùng Kiến non cùng "Bà Hoàng" Kiến Chúa di chuyển sang một nơi khác.

12. Nếu Kiến có kích thước tương đương với con người, thì chúng chắc chắn sẽ là vận động viên điền kinh cừ khôi, với vận tốc chạy trung bình 55 km/h, đặc biệt không bao giờ bị mệt.

13. Kiến có sức mạnh phi thường, chúng có thể nâng một vật có trọng lượng gấp 5000 lần cơ thể nó.

14. Mỗi đàn kiến có mùi đặc trưng của riêng mình. Vì vậy, những kẻ xâm nhập bất hợp pháp ngay lập tức sẽ bị tiêu diệt.

15. Hiện con người đã phát hiện ra hơn 12.000 loài Kiến trên Trái Đất, chúng được phân biệt dựa trên hình dạng, màu sắc và kích thước.

16. Kiến sống rất đoàn kết, chúng có thể hợp sức để dễ dàng hạ gục con mồi to lớn hơn gấp nhiều lần so với chúng, nếu không ăn thịt thì Kiến sẽ bắt con vật đó làm nô lệ.

17. Một tổ Kiến có thể dao động từ vài chục đến hàng nghìn tỷ cá thể.

18. Kiến đã có mặt ở hầu hết các vùng đất trên hành tinh, trừ Bắc Cực, Nam Cực và một số vùng hải đảo.

19. Tại một số nơi trên thế giới, đặc biệt là Mexico, Kiến và ấu trùng của nó được xem là một món ăn ngon, thậm chí là một đặc sản. Kiến và ấu trùng khi được chế biến thành món ăn được bán ra với giá 80 USD/kg.

20. Ít có địa hình khó khăn nào có thể cản chân được loài Kiến, chúng có thể liên kết lại để tạo thành những chiếc cầu vững chắc cho đồng đội đi qua.

21. Ở bất kì thời điểm nào trên Trái Đất cũng hiện hữu khoảng 10.000.000.000.000.000 (10 triệu tỉ) cá thể Kiến sinh sống, dù cho hàng ngày, hàng giờ con người đã giết không ít những con Kiến. Ước tính loài Kiến chiếm khoảng 15-20% tổng số cá thể động vật sống trên cạn.

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Bí ẩn về loài Sao la

Có rất nhiều loài động vật tồn tại vẫn là một ẩn số với các nhà khoa học trong số đó có loài Sao La mặc dù chúng đã được phát hiện khá lâu.



Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF), Nhóm Nghiên cứu Sao la (SWG) của Ủy ban vì Sự sống các Loài, thuộc IUCN và Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCS) đã lên tiếng cảnh báo loài này đang trên đường tuyệt chủng do bị săn bắt ráo riết và công tác quản lý kém hiệu quả tại các khu bảo tồn.

Ẩn số…Sao La

Ông Nick Cox, Quản lý Chương trình Loài của WWF-Greater Mekong cho biết; “Sao la là loài động vật vô cùng nhút nhát, hiếm khi có thể bắt gặp được chúng. Mặc dù Sao la cư trú trong một vùng rất hẹp nhưng vẫn chưa có nhà khoa học nào tận mắt nhìn thấy chúng trong tự nhiên. Các cá thể Sao la bị bắt đều không sống được trong điều kiện nuôi nhốt”.

Do đặc tính lẩn trốn con người nên các nhà khoa học chưa thể đánh giá được số lượng chính xác của quần thể Sao la. Ông William Robichaud, Điều phối viên Nhóm Nghiên cứu Sao la phỏng đoán: “Trường hợp khả quan nhất, có thể vẫn còn khoảng vài trăm cá thể Sao la ở ngoài tự nhiên, xấu nhất thì chỉ còn khoảng vài chục cá thể”.

Mặc dù việc phát triển các cơ sở hạ tầng đang xâm lấn sinh cảnh sống của Sao la, nhưng mối đe dọa lớn nhất với loài vật này vẫn là các hành vi săn bắt trộm. Sao la thường bị dính bẫy của thợ săn, vốn dùng để săn bắt các con vật khác như hươu, mang, lợn rừng, v.v… Những loài này đem lại lợi nhuận lớn hơn trên thị trường buôn bán động vật hoang dã do nhu cầu về thuốc Đông y tại Trung Quốc và thị trường ẩm thực tại Việt Nam và Lào.

Cần lập các khu bảo tồn xung yếu

Sau khi tìm ra Sao la, Việt Nam và Lào đã xây dựng một mạng lưới các Khu bảo tồn (KBT) tại vùng sinh cảnh của Sao la. Một số KBT đã thực hiện các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn nạn săn bắn trộm. Tại KBT Sao la tỉnh Thừa Thiên Huế, WWF hiện đang hỗ trợ một phương pháp tuần tra rừng mới, đồng quản lý bởi WWF và KBT và bước đầu đã cho nhiều kết quả tích cực. Từ tháng Hai năm 2011, trong quá trình đi tuần tra rừng trong KBT, các cán bộ tuần tra đã dỡ bỏ được hơn 12.500 bẫy và gần 200 lán của các nhóm lâm tặc.

TS Barney Long, Chuyên viên về Loài ở châu Á của WWF - Mỹ cho biết: “Chính phủ Việt Nam và Lào rất cần thành lập các khu bảo tồn xung yếu. Tuy nhiên, nếu không nỗ lực để thực hiện các biện pháp quản lý mới nhằm bảo vệ sinh cảnh của Sao la thông qua việc phá bỏ các bẫy săn bắt trộm, các khu bảo tồn này sẽ chỉ còn là những đường vẽ trên bản đồ mà thôi”.

“Nếu giảm được các vụ săn bắt, tương lai của loài này sẽ khả quan hơn”, ông Chris Hallam, Cố vấn Quy hoạch Bảo tồn WCS - Lào nói. “Điều này đòi hỏi phải tăng cường lực lượng bảo vệ rừng trong khu vực sinh cảnh của Sao la, phải có thêm trợ cấp cho nỗ lực bảo tồn của họ và nhất là phải giảm được nhu cầu thực phẩm và thuốc đối với động vật hoang dã”.

Tính khẩn cấp về những nỗ lực cứu loài Sao la càng tăng lên khi tê giác Java - một loài biểu trưng khác của Việt Nam được tuyên bố đã bị tuyệt chủng khi cá thể tê giác cuối cùng bị giết bởi những kẻ săn trộm vào năm 2010.

“Năm nay chúng ta làm lễ kỷ niệm năm thứ 20 phát hiện ra Sao la, nhưng đây cũng sẽ là lễ kỷ niệm cuối cùng nếu những biện pháp cấp thiết không được thực thi". ông Hallam nói thêm.

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2016

Lòai chim báo hiệu cái chết có bí ẩn gì?

Cú lợn là loài chim rất thông minh, đáng yêu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chúng bị coi là quỷ dữ, khi người ta tin rằng, chúng là điềm báo cho một cái chết. Người Việt tin rằng, chim lợn kêu ở đầu hồi nhà ai thì nhà đó có người sắp chết. Chim cú lợn kêu 7 tiếng thì cái chết ứng vào nam giới, còn 9 tiếng thì ứng vào nữ giới.



Người ta còn đồn rằng, khi con người sắp chết, sẽ giải phóng một thứ mùi đặc trưng và chim lợn với thính giác nhạy bén, đã phát hiện ra và báo hiệu. Vì quan niệm như vậy, nên khi tiếng chim lợn kêu éc éc thành tràng dài não nề trong đêm khuya tĩnh mịch, luôn tạo cảm giác rợn người.

Bí ẩn về loài chim báo hiệu cái chết

Thậm chí, những tiếng chim lợn trong đêm, sẽ khiến cả làng bàn tán chuyện chết chóc sẽ xảy đến với một ai đó, rồi người ta thi nhau đoán già, đoán non. Vì niềm tin loài chim này mang lại những điềm xấu, nên chim lợn bị ghét bỏ, bị xua đuổi, thậm chí bị giết. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không tin vào điều đó. Chim lợn thực sự là một loài động vật có ích.

Món ăn ưa thích nhất của chúng ăn chuột và một số loại côn trùng. Khi không săn được chuột, chúng ăn tạm thằn lằn và một số loài chim khác. Cú lợn là chim săn mồi, hoạt động chủ yếu về đêm, thường sống thành đôi hoặc đơn độc và không di trú. 

Bí ẩn về loài chim báo hiệu cái chết

Trông loài vật này có vẻ chậm chạp, điềm tĩnh và bí ẩn, nhưng chúng thực sự là những sát thủ, với tốc độ của một cơn gió và những móng chân sắc như dao. Trong bóng đêm đen đặc, đôi mắt tinh tường của nó không bỏ sót một chú chuột nhỏ đang chạy ở một khoảng cách cả trăm mét. 

Họ cú lợn là một trong hai họ động vật thuộc bộ cú. Một số loài thấy ở Việt Nam thường được gọi chung là chim lợn do tiếng kêu của nó giống tiếng lợn. Cú lợn là họ cú cỡ trung bình và lớn, đầu to, chân khỏe với móng vuốt sắc. Nét đặc thù của chúng là mặt dẹt như cái đĩa, hình trái tim, được tạo bởi lông vũ. Những lông vũ này còn có tác dụng định vị và khuyếch đại âm thanh khi săn mồi.

Bí ẩn về loài chim báo hiệu cái chết

Lông vũ ở cánh cú lợn cũng có cấu tạo đặc biệt nên không phát ra tiếng động khi bay, giúp chúng nghe tốt hơn và tránh được sự phát hiện của con mồi. Cú lợn có lưng từ màu xám đến nâu, ngực và bụng màu sáng hơn, có thể có đốm

Cú lợn rừng thường nhỏ hơn và đĩa mặt không có hình trái tim mà được chia thành 3 phần, tai được lông bao bọc. Cú lợn phân bố khá rộng, nó có thể sống ở môi trường sa mạc, rừng, ở vùng có khí hậu ôn đới lẫn nhiệt đới. Cú lợn có mặt ở khắp nơi, trừ Bắc Mỹ, sa mạc Sahara và một phần của châu Á.

Ở Việt Nam có 3 loài cú lợn, gồm cú lợn lưng xám (Tyto alba stertens), cú lợn rừng phương Đông (Phodilus badius saturatus) và cú lợn lưng nâu (Tyto longimembris). Cú lợn lưng xám và cú lợn lưng nâu được xếp vào các loài động vật là thiên địch của chuột (thức ăn chính là chuột), bị nghiêm cấm khai thác từ tự nhiên.

Cú lợn rừng được đưa vào sách đỏ Việt Nam (mức độ nguy cấp bậc T - bị đe dọa). Đây là loài có giá trị thẩm mỹ và khoa học, là nguồn gene quý. Mặc dù cú lợn rừng có vùng phân bố rộng nhưng số lượng cá thể ít, hiếm gặp. Hiện tại cũng chưa xác định được còn bao nhiêu cá thể tồn tại trong tự nhiên.

Mặc dù chim lợn là loài thiên địch, rất quý, song vì quan niệm dị đoan, nên chúng ta đang có sự phân biệt đối xử với loài chim này. Trong tiếng lóng của người Việt, “chim lợn” chỉ những người xấu, chuyên rình mò như cú và bới móc người khác.

Từ “chim lợn” cũng dành cho những người làm ăn phi pháp, buôn lậu. Sự gán ghép oan uổng đó khiến việc bảo tồn loài vật này càng thêm khó khăn. Trên thế giới, người ta coi đây là một loài chim có vẻ đẹp độc đáo, được yêu thích. Chúng có khuôn mặt hình trái tim rất ngộ nghĩnh. Bộ lông mượt có nhiều hoa văn khá đẹp mắt.